Home / KIẾN THỨC / Nhân Vật Lịch Sử / Viên Thế Khải cựu tổng thống Trung Hoa Dân Quốc

Viên Thế Khải cựu tổng thống Trung Hoa Dân Quốc

Viên Thế Khải sinh ra tại thôn Trương Doanh, huyện Hạng Thành, phủ Trần Châu, tỉnh Hà Nam (16 tháng 9 năm 1859 – 6 tháng 6 năm 1916), tự là Uy Đình, hiệu là Dung Am; là một nhân vật lịch sử ở đầu thời Trung Hoa Dân Quốc.

Viên Thế Khải- một chính trị gia có tài, thông minh, biết tổ chức, mưu mô, cương quyết, có bản lãnh, có thủ đoạn

Khi còn trẻ, Viên Thế Khải (sách sử có khi gọi tắt là Viên) thích cưỡi ngựa, đánh võ. Ông mong muốn làm quan chức nhưng đã hai lần trượt trong các kỳ thi của triều đình. Nhưng nhờ mối quan hệ của cha, mà Viên có một chỗ đứng trong quân đội nhà Thanh ở Sơn Đông.

Năm 1884, Viên theo đoàn quân đi trấn áp phong trào nông dân ở Triều Tiên, rồi tham gia Chiến tranh Thanh-Nhật, nhưng ông được lệnh trở nước trước khi cuộc chiến kết thúc, mà phần thắng lợi nghiêng về phía quân đội Nhật Bản.

Năm 1894 đến 1898, ông tham gia các cuộc đánh dẹp quân Nghĩa Hoà Đoàn. Nhờ theo phe đại thần Lý Hồng Chương, Viên được bổ nhiệm làm chỉ huy trong việc đào tạo quân đội mới (1895).

Tháng 6 năm 1898, nghe theo lời Khang Hữu Vi và Lương Khải Siêu, Hoàng đế Quang Tự cho thi hành cuộc biến pháp, nhằm duy tân đất nước. Thế nhưng chỉ mấy ngày sau, thì vấp phải sự chống đối của phái Hậu đảng, tức phe phái của Thái hậu Từ Hi. Đàm Tự Đồng, một thành viên của phái duy tân, thấy vậy bèn khuyên Quang Tự đoạt lấy chính quyền. Hoàng đế nghe lời bèn cử Tự Đồng đến gặp Viên Thế Khải lúc đó đang thống lĩnh 7.000 quân ở Thiên Tân, và đã từng tham gia Cường học hội (một tổ chức của phái Duy tân).

Mặc dù nhận lời kéo quân về giúp, nhưng sau khi cân nhắc, Viên thấy phe Từ Hi (sử gọi là Hậu đảng) còn mạnh, nên ngay sau đó ông lập tức đến Bắc Kinh, báo lại mọi việc cho Từ Hi. Kết quả là Hoàng đế Quang Tự bị bắt giam, 6 vị nhân sĩ (trong đó có Đàm Tự Đồng) bị giết, Khang Hữu Vi cùng Lương Khải Siêu phải chạy trốn sang Nhật Bản, và cuộc biến pháp bị bãi bỏ…Sử gọi vụ này là Bách nhật Duy tân (Cải cách trăm ngày), là Chính biến Mậu Tuất (1898),

Nhờ công tiết lộ, Viên Thế Khải được Từ Hi phong làm Thống soái tân quân Bắc Dương.

Năm 1901, Viên thay Lý Hồng Chương làm đại thần nhiếp chính. Năm 1907, Viên được cử làm Thượng thư bộ Ngoại vụ, tham gia vào việc quân cơ.
Cựu hoàng Phổ Nghi kể:
Viên Thế Khải sau khi đến Bắc Kinh không đầy một tháng, lấy danh nghĩa Long Dụ thái hậu (vợ chính Hoàng đế Quang Tự) mở kho lương thực tiếp tế cho quân đội, đồng thời bức ép những người thân quý nộp tài sản nuôi quân…Chính trị, quân binh, tài sản (trong cung), tất cả đều rơi vào tay của Viên Thế Khải….
Năm 1908, Hoàng đế Quang Tự qua đời. Bấy giờ có người tin rằng Quang Tự mất vì bị Khánh Vương Dịch Khuông và Viên Thế Khải đầu độc, để đưa Tái Chấn (con Dịch Khuông) lên nối ngôi [1].

Thấy có nhiều người muốn giết Viên Thế Khải, nhưng sợ rằng khi Viên chết, thì quân Bắc Dương sẽ nổi lên phản đối, nên Thái hậu Long Dụ nghe theo chủ ý của Trương Chi Động, cho Viên về nhà dưỡng bệnh, rồi cho nghỉ công tác.

Trấn áp quân cách mạng:

Bất mãn vì nhà Thanh quốc hữu hoá đường sắt Xuyên – Hán, Việt – Hán để gán nợ cho Anh, Pháp, Đức, Mỹ; nhân dân các tỉnh Hồ Bắc, Hồ Nam, Quảng Đông, Tứ Xuyên nổi dậy phản đối.

Lợi dụng thời cơ nhà Thanh điều quân đội từ Vũ Xương đến Trùng Khánh, tối ngày 10 tháng 10 năm 1911, binh lính ở Vũ Xương nổi dậy. Đây là kết quả của một cuộc vận động lâu dài của những phần tử trong Trung Quốc Đồng minh hội [2]. Mờ sáng hôm sau thì quân cách mạng chiếm được Vũ Xương. Sử gọi là Khởi nghĩa Vũ Xương. Thắng lợi này đã cổ vũ các tỉnh khác tuyên bố ly khai với nhà Thanh, làm nên cuộc Cách mạng Tân Hợi.

Lập tức, Thanh đình phái nhiều tướng lĩnh và hàng vạn quân đi tiêu diệt, nhưng không thành công. Lúc bấy giờ Viên Thế Khải đang dưỡng bệnh ở Hà Nam, được mời ra làm Tổng đốc Hồ – Quảng, chỉ huy đội quân Bắc Dương, lãnh nhiệm vụ trấn áp quân cách mạng ở Hán Khẩu, Hán Dương.

Cựu hoàng Phổ Nghi kể:
Nghe nói, cha tôi (tức Hàm Thân Vương, lúc này đang làm Nhiếp Chính Vương) cùng các vương công thảo luận, bất luận Viên trấn áp cách mạng thành công hay thất bại, cuối cùng phải diệt trừ ông ta. Nếu như Viên thất bại thì mượn cớ thất bại mà xử tội chết, nếu như thành công thì lấy cớ giải trừ quân đội, tướt bỏ binh quyền, rồi nghĩ cách tiêu diệt. Tóm lại, quân đội quyết không để rơi vào tay người Hán, nhất là là không thể nằm trong tay Viên (Nửa đời đã qua, tr. 36).

Tuy nhiên, Viên cũng không phải là tay vừa. Nhân cơ hội này, ông liền ép Thanh đình phải cử ông làm Tổng lý nội các (tương đương chức Thủ tướng bây giờ).

Ngày 2 tháng 11 năm 1911, Viên cho quân đánh chiếm lại Hán Khẩu, sau đó cho bao vây Vũ Xương. Ngày 12 tháng 11, Viên Thế Khải đến Bắc Kinh thành lập nội các. Cho Đoàn Kỳ Thụy coi việc quân ở miền Võ Hán, cho Phùng Quốc Chương làm Tổng thống quân cấm vệ tại kinh thành.

Ngày 15 tháng 11, đại biểu quân cách mạng ở các tỉnh về Thượng Hải dự hội nghị, nhưng đến ngày 24 thì bị vây phải dời về Vũ Xương. Nơi này lại bị vây, hội nghị phải họp trong tô giới Anh ở Hán Khẩu.

Ngày 2 tháng 12, quân cách mạng chiếm được Nam Kinh, hội nghị liền dời về đây để bầu đại Tổng Thống, lập Chính phủ lâm thời.

Ngày 25 tháng 12, Tôn Dật Tiên (còn gọi là Tôn Văn hay Tôn Trung Sơn) từ Mỹ về nước. Sau đó (10 tháng 11 năm Tân Hợi, tức là ngày 29 tháng 12 năm 1911), ộng được đại biểu của 17 tỉnh dự họp bầu làm Đại tổng thống lâm thời (Lê Nguyên Hồng làm phó), và lấy ngày 1 tháng 1 năm 1912 làm ngày khai sinh của chính quyền Trung Hoa dân quốc.

Được tin, Viên Thế Khải liền tìm mọi cách tấn công vào chính quyền mới. Vừa bị Viên uy hiếp, vừa bị các nước đế quốc thu hết thuế quan (họ không công nhận chính phủ của Tôn Dật Tiên), nên chính phủ Cộng hòa gặp rất nhiều khó khăn.

Làm Lâm thời Đại Tổng thống:

Để chấm dứt cuộc nội chiến, Tôn Dật Tiên đã đề xuất hiệp nghị 5 điều như sau:
-Hoàng đế nhà Thanh phải thoái vị.
-Viên Thế Khải phải tuyên bố tuyệt đối tán thành chính thể Cộng hòa.
-Hoàng đế thoái vị xong, Tôn Dật Tiên sẽ từ chức Lâm thời Đại Tổng thống.
-Lâm thời Tham nghị viện sẽ cử Viên Thế Khải lên làm Lâm thời Đại Tổng thống.
-Được tuyển cử rồi, Viên phải tuyên thệ giữ Lâm thời ước pháp do Tham nghị viện định ra.

Viên Thế Khải bằng lòng, bèn mật sai Đoàn Kỳ Thụy hiệp với 40 tướng lãnh khác uy hiếp Hoàng đế nhà Thanh thoái vị. Ngày 12 tháng 2 năm 1912 (năm đầu Dân quốc), Hoàng đế Tuyên Thống (tức Ái-tân-đảng-la Phổ-nghi) phải xuống chiếu thoái vị, để hoàng thất và hoàng tộc còn hưởng được một số điều kiện ưu đãi của Chính phủ Dân quốc.

Ngay hôm sau, Viên điện cho Tôn Dật Tiên và Lê Nguyên Hồng biết công lao của ông, và có ý thúc ép Tôn Dật Tiên từ chức, nhường chức Đại tổng thống lại cho Viên. Tôn Dật Tiên đồng ý với ba điều kiện là:
-Chính phủ lâm thời phải đóng ở Nam Kinh, không được thay đại biểu.
-Tổng thống mới được cử phải đến Nam Kinh nhận chức, Tôn Dật Tiên và Chính phủ của ông mới thôi chức.
-Tổng thống mới phải tuân theo Ước pháp của Chính phủ lâm thời, những điều luật và quy chế đã công bố vẫn tiếp tục có giá trị.

Ngày 15 tháng 2 năm 1912, sau khi Viên Thế Khải đồng ý tuân theo các điều kiện trên, Tham nghị viện cử ông lên làm Lâm thời Đại Tổng thống. Tôn Dật Tiên sau đó cử học giả Thái Nguyên Bồi lên Bắc Kinh rước Viên xuống Nam Kinh nhận chức theo thỏa thuận. Nhưng vì Viên không muốn rời xa hang ổ của mình, nên bí mật cho một nhóm binh sĩ do Tào Côn thống lĩnh giả vờ nổi loạn. Sợ phương Bắc có biến, Thái Nguyên Bồi đề nghị để Viên tuyên thệ và nhận chức ở Bắc Kinh.

Ngày 10 tháng 3, Viên Thế Khải tuyên bố nhận chức ở Bắc Kinh. Căn cứ vào quy định của Ước pháp, Viên cử người xuống Nam Kinh tổ chức nội các mới, dùng Đường Thiệu Nghi làm Quốc vụ Tổng lý. Ngày 5 tháng 4, Tham nghị viện quyết định dời Chính phủ lâm thời lên Bắc Kinh. Cách mạng Tân Hợi đến đây kể như kết thúc.

Nhận xét khái quát về ông, học giả Nguyễn Hiến Lê viết:
Ông là một chính trị gia có tài, thông minh, biết tổ chức, mưu mô, cương quyết, có bản lãnh, có thủ đoạn; chỉ tiếc rằng ông ham quyền quá, nhiều tham vọng quá, không dùng tài mình vào việc giúp nước, mà chỉ để nhắm cái ngai vàng…Giá bấy giờ Trung Hoa có một lãnh tụ khác, không nghĩ đến tư lợi, đến quyền thế của mình, thì có thể Trung Hoa đã thống nhất được ngay và tránh được cái họa nội chiến kéo dài nhiều năm sau…(Sử Trung Quốc, Quyển 3, tr. 26).

About Gạo Nếp

Check Also

Nữ Anh hùng đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam​-Nguyễn Thị Chiên

Bà Nguyễn Thị Chiên sinh năm 1930, tại xóm Trại Đồng, xã Tân Tiến (nay …

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *